Dụng cụ đánh bóng tại đây được phân nhóm theo cấu tạo, vật liệu mài, mức độ nhám và hình thức gá lắp. Cách phân nhóm này giúp thu hẹp lựa chọn nhanh theo từng công đoạn xử lý bề mặt.
Danh mục gồm bánh nỉ dạng lá FELT FLAP. Các mã từ RGF030-30, RGF040-30 đến RGF080-30. Nhóm này dùng cho công đoạn đánh bóng tạo độ sáng gương. Còn có chổi không dệt có trục RGP030-20C đến RGP080-50C dùng vật liệu corundum. Ngoài ra có bánh xe vải oxit nhôm RFT165-25040. Kèm bánh xe hỗn hợp vải và không dệt RGM040-20F. Cùng bông cotton gắn trục DCG050, DCG080. Còn có mã DCG100, kết hợp kem mài.
Nội dung bên dưới trình bày tính năng và cách phân loại. Nội dung cũng nêu tiêu chí chọn theo vật liệu. Vật liệu gồm thép, inox, nhôm, gang, gỗ. Ngoài ra còn có lưu ý khi vận hành. Nhóm dụng cụ đánh bóng này phù hợp cho xưởng cơ khí, gia công kim loại, chế biến gỗ và xây dựng. Nhóm này được phân phối chính hãng thương hiệu FERVI.

























Dụng cụ đánh bóng trong danh mục được sắp theo cấu tạo, vật liệu mài và cách gá lắp. Cách sắp này giúp người mua khoanh vùng nhanh theo từng bước gia công. Bước phá thô, bước làm mịn trung gian và bước đánh bóng gương dùng vật liệu khác nhau. Trang tập hợp bánh nỉ, bông cotton, bánh không dệt, đĩa lông cừu và các chi tiết gá đỡ đi kèm.
Các mã hàng Fervi ở đây phục vụ thép, inox, nhôm, gang và bề mặt sơn. Một số nhóm lắp lên máy mài trục, số khác lắp lên máy mài góc hoặc máy trục ngang. Đường kính chạy từ Ø10 mm cho khe hẹp tới Ø250 mm cho mặt phẳng rộng. Người dùng chọn cỡ theo diện tích chi tiết và theo loại máy đang có tại xưởng.
Nhóm nỉ phục vụ bước cuối, khi bề mặt đã hết vết mài thô. Nỉ giữ keo đánh bóng trên mặt tiếp xúc, hạt mài nằm trong lớp keo. Cấu tạo dạng cánh giúp bánh ôm mặt cong và giảm tích nhiệt trên chi tiết. Xưởng cơ khí thường dùng nhóm này cho thép, inox, nhôm và gang sau công đoạn làm mịn.
Bánh nỉ cánh RGFx có đường kính Ø30 đến Ø80 mm, chuôi 6 mm. Dải mã gồm các mã sau.
Đầu mài nỉ MFGx gồm 12 cỡ từ Ø6 đến Ø25 mm cho chi tiết nhỏ. Bánh nỉ thông gió RFF100 có kích thước 110 x 100 mm, lỗ gá 19 mm.
Trên máy mài góc, đĩa nỉ cánh DLFx xử lý mặt phẳng rộng ở cỡ Ø115 và Ø125 mm. Nền sợi thuỷ tinh giữ các cánh nỉ cố định khi đĩa quay. Thợ phết keo đánh bóng lên mặt đĩa rồi chạy nghiêng nhẹ theo bề mặt. Cách làm này phù hợp với tấm kim loại lớn, nơi bánh chuôi nhỏ đi quá chậm.
Nhóm vải mềm dùng ở bước cuối, khi cần bề mặt sáng mà không còn vết cắt. Vải cotton giữ keo đánh bóng tốt và không để lại đường xước mới. Một số dạng đĩa ghép lớp và khâu chỉ nên giữ được hình khi quay ở tốc độ cao. Hình dáng bông khác nhau phục vụ mặt phẳng, mặt cong và lòng hốc.
Bông cotton gắn trục DCGx có ba cỡ Ø50, Ø80 và Ø100 mm. Bông xoè FCGx ở cỡ Ø50 và Ø75 mm đi mặt phẳng và mặt cong thoải. Bông chóp CCGx cùng dải cỡ vào được đáy hốc và mặt lõm. Ba dạng này đều lắp trên máy mài trục và dùng kèm keo đánh bóng.
Trên máy trục ngang, đĩa cotton khâu DCTx có cỡ Ø150, Ø200 và Ø250 mm. Đĩa sisal và cotton DSCx ghép lớp cứng với lớp mềm cho bước trung gian, lỗ gá 20 mm. Đĩa gợn sóng DC200 đường kính Ø200 mm có 14 lớp và lõi giấy. Đĩa cotton thông gió DCK100 đóng gói 10 đĩa, ghép thành bánh 100 mm.
Nhóm không dệt xử lý vết xước, mối hàn, gỉ và lớp oxy hoá trước khi đánh bóng. Nền xốp đàn hồi nên dụng cụ ôm theo mặt cong mà không cắt sâu vào chi tiết. Độ mịn phân theo cấp từ coarse đến fine, chọn theo mức bóc vật liệu mong muốn. Đây là bước chuẩn bị bề mặt cho các nhóm nỉ và cotton phía sau.
Bánh không dệt có trục RGPx gồm cỡ Ø30 đến Ø80 mm với bốn độ mịn. Bánh có lỗ RFPx ở cỡ 165 và 200 mm lắp cho máy đánh bóng trục ngang. Bánh ghép vải và không dệt RGMx phục vụ bước làm mịn trung gian, cỡ Ø30 đến Ø80 mm. Đĩa đánh bóng không dệt trắng DNW100 có đường kính 100 mm, lỗ 10 mm, gói 10 đĩa.
Với gỉ, sơn cũ và lớp oxy hoá, chổi nylon mài CSF-075 và CSF-050 dùng trên máy mài trục. Trong khe hẹp và lòng khuôn, bánh nhám cánh mini RMTx có cỡ Ø10 và Ø15 mm, chuôi 3 mm. Cánh nhám mòn tới đâu lộ hạt mới tới đó nên bánh giữ được độ cắt. Miếng đệm xốp FSA120-060C mài được cả khô và ướt, có hạt mài hai mặt.
Bề mặt sơn cần dụng cụ mềm hơn so với kim loại trần. Lông cừu và mút xốp giữ hợp chất đánh bóng, đi đều trên thân vỏ mà không cắt lớp sơn. Bên cạnh đó, đĩa nhám và đĩa xơ cần đệm lưng đúng cỡ để ép đều lực. Nhóm gá đỡ quyết định chất lượng tiếp xúc giữa vật liệu mài và chi tiết.
Lông cừu VDLx có dải cỡ Ø75 đến Ø180 mm với lưng dán velcro. Đĩa lông cừu xoắn VLA200 đường kính Ø200 mm dùng cho mặt sơn và đá cẩm thạch, kèm đệm lưng PLV175 ren M14. Bọt biển SALx có cỡ Ø80 và Ø150 mm với bốn màu theo độ cắt. Thợ đi lần lượt từ màu cắt mạnh đến màu đánh tinh.
Đệm lưng PFBx và PFSx có cỡ Ø115 và Ø180 mm, ren M14. Bản phẳng dùng cho mặt phẳng, bản mềm bám theo biên dạng cong. Đệm có bọt PMEx ở cỡ Ø125 và Ø150 mm nhận đĩa nhám velcro. Đệm SPA115-M14 đường kính 115 mm chịu tốc độ tối đa 13300 vòng phút. Cặp mặt bích FRF54-20 dùng khi cần kẹp đĩa trên trục.
Quy trình thường đi từ làm sạch bằng nhóm không dệt hoặc nylon mài. Sau đó chuyển sang bánh ghép vải và không dệt cho bước trung gian. Bước cuối dùng nỉ, cotton hoặc lông cừu kết hợp keo đánh bóng. Bộ keo S169 gồm nhiều màu paste theo mức bóc và theo nhóm kim loại như đồng thau, nhôm và kẽm.
Chọn đường kính theo chi tiết, chọn kiểu gá theo máy đang dùng tại xưởng. Xem trang từng mã để đối chiếu cỡ, lỗ gá và độ mịn trước khi đặt hàng.
| Mã SKU | Giá (VND) | Tồn kho | |
|---|---|---|---|
| Đang tải biến thể... | |||
